• Hotline
    HỒ CHÍ MINH
    • CN TP. Hồ Chí Minh:
      (028) 38.266.766
    • CN Sài Gòn:
      1900 636 121
    • CN Phú Mỹ Hưng:
      0898 411 620
    • Khối khách lẻ:
      0985 266 766
    • PGD Nam Long Q7:
      0903 645 455
    • PGD Cộng Hòa:
      0903 284 789
    • PGD Phạm Văn Đồng:
      0976 154 448
    HÀ NỘI
    • Hotline:
      093 123 8499
    NGHỆ AN
    • Hotline:
      097 625 0186
    HẢI PHÒNG
    • Hotline:
      091 745 6886
    HẢI DƯƠNG
    • Hotline:
      091 209 6171
    ĐÀ NẴNG
    • Hotline:
      0903 588 787
    BÌNH ĐỊNH
    • Hotline:
      094 987 1959
    BÌNH THUẬN
    • Hotline:
      098 784 00123
    NAM BÌNH THUẬN
    • Hotline:
      0913 121 857
    ĐỒNG NAI
    • Hotline:
      094 816 3939
    CẦN THƠ
    • Hotline:
      094 181 4545
    LONG XUYÊN
    • Hotline:
      0966 879 869
    CÀ MAU
    • Hotline:
      0886 889696
    Hoa Kỳ (USA)
    • Hotline:
      1-832-468-0857
    Campuchia
    • Hotline:
      855 - 23 991 394

Tiến sỹ Nguyễn Đức Thọ tham gia tọa đàm giải pháp phát triển du lịch Cần Thơ đến năm 2020

Toàn văn bài phát biểu của Tiến sỹ Nguyễn Đức Thọ trong buổi tọa đàm giải pháp phát triển du lịch Cần Thơ đến năm 2020: 

Đề xuất cơ chế chính sách đầu tư để phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn

I. Tổng quan du lịch thế giới và khu vực

Trong những năm qua, tình hình du lịch thế giới và khu vực có sự tăng trưởng liên tục nhưng khác nhau ở từng giai đoạn. Số lượng khách du lịch quốc tế đạt 940 triệu lượt (năm 2010), 983 triệu lượt (năm 2011) và chạm mốc 1 tỷ lượt (năm 2012). Trong đó, tính đến năm 2011, châu Âu vẫn là thị trường thu hút nhiều khách du lịch quốc tế nhất (504 triệu lượt), tiếp theo là châu Á và Thái Bình Dương (217 triệu lượt). Tổng thu du lịch quốc tế ước đạt 928 tỷ USD (năm 2010) và 1.030 tỷ USD (năm 2011). Việt Nam hiện nằm trong top 5 điểm đến hàng đầu khu vực ASEAN và top 100 điểm đến hấp dẫn của du lịch thế giới. Mặc dù đạt tốc độ tăng trưởng cao trong năm 2010 (34,8%) và năm 2011 (19,1%) nhưng mức tăng tuyệt đối của Việt Nam vẫn chưa bằng Thái Lan và Singapore. Thị trường nguồn của du lịch Việt Nam (năm 2012) theo khu vực là: Đông Bắc Á (46%), ASEAN (20%), Châu Âu (13%), Bắc Mỹ (8%), Thái Bình Dương (5%) và thị trường khác (8%).

Tuy kinh tế khó khăn, đi du lịch vẫn còn là một thói quen của đông đảo người dân các quốc gia. Ngành du lịch dự báo sẽ tiếp tục tăng trưởng với tốc độ 3,3% để đạt mức 1,8 tỷ lượt khách năm 2030.

Trong đó, đáng lưu ý là các thị trường mới nổi sẽ đạt mức tăng trưởng gấp đôi so với trước và chiếm hơn một nửa lượng khách du lịch - ước tính với con số khách đến riêng các thị trường này đạt 1 tỷ lượt vào năm 2030.

II. Du lịch thế giới trong năm 2016

Theo nhiều tổ chức nghiên cứu du lịch quốc tế, xu hướng nổi bật của ngành du lịch thế giới trong năm 2016 là du lịch trên sông, các điểm đến vùng Bắc Âu, du lịch mạo hiểm... Trong đó, các nhà tổ chức du lịch đặc biệt quan tâm đến loại hình du lịch theo chủ đề, du lịch đơn lẻ và du thuyền trên sông. 

Đối với các điểm đến trong năm, khu vực Đông Âu cùng các nước Bắc Âu đang ngày càng hút khách. Những điểm đến vùng cực chưa được phổ biến trước đây như Greenland, Bắc Cực và Nam Cực sẽ chia sẻ thị phần du lịch... 

Bên cạnh đó, một hình thức du lịch khác cũng trở thành xu hướng mới với 60% du khách có độ tuổi từ 22-42 tuổi thích sử dụng dịch vụ chia sẻ với người cùng mục đích trong hành trình du lịch, và 78% du khách cho rằng các chuyến du lịch sẽ thú vị hơn khi có một người bạn hướng dẫn tại chỗ. 

Trải nghiệm những địa danh không có trong các tuyến du lịch quen thuộc đang trở nên phổ biến với những đô thị chưa được nhiều người khám phá sẽ “vào mùa” trong năm 2016. Theo tạp chí du lịch hàng đầu thế giới Lonely Planet, du khách mong muốn được khám phá những tuyến phố nhỏ và thưởng thức ẩm thực địa phương tại các quán ăn yên tĩnh. 

Một lợi thế khác là khách du lịch có thể tiết kiệm đáng kể chi phí du lịch, khi các dịch vụ hạ tầng du lịch tại các thành phố trên còn duy trì ở mức thấp đáng kể so với những điểm đến quen thuộc. Trong khi đó, thử thách phiêu lưu ở những vùng đất lạ sẽ là một trào lưu ở du khách trẻ. 

Thực trạng và xu hướng du lịch thế giới tạo cho du lịch Việt Nam nhiều cơ hội để phát triển như: nhu cầu du lịch thế giới và khu vực ngày càng tăng; xu thế hợp tác khu vực ngày càng được đẩy mạnh; nguồn khách du lịch nội vùng châu Á - Thái Bình Dương và khách du lịch cao cấp từ châu Âu, châu Mỹ rất lớn.

Tuy nhiên, thách thức không nhỏ đối với du lịch Việt Nam đó là sự cạnh tranh với các nước có ngành du lịch phát triển trong khu vực, xây dựng sản phẩm đặc thù nổi bật đáp ứng nhu cầu của từng phân đoạn khách du lịch, marketing và khả năng tiếp cận từ bên ngoài.  

III. Kinh nghiệm của một số quốc gia châu Á trong phát triển du lịch

A. Nhật Bản

1. Sự phát triển thần kỳ của du lịch Nhật Bản, bài học cho Việt Nam?

Theo Tổng cục Du lịch Việt Nam, Nhật Bản là quốc gia có xuất phát điểm về du lịch và một số điều kiện địa lý, hoàn cảnh lịch sử và tài nguyên văn hóa, tự nhiên tương đối tương đồng với Việt Nam. Trong những năm gần đây, nhờ có chính sách quản lý và vận hành phát triển du lịch hợp lý nên ngành du lịch của nước này đạt mức độ phát triển cao và ổn định, được du khách và các chuyên gia du lịch thế giới đánh giá cao.

Bằng chứng, qua số liệu thống kê của ngành du lịch Nhật Bản, từ năm 2000 trở lại đây, số lượng khách Nhật Bản đi du lịch nước ngoài thường dao động ở con số 14 triệu đến hơn 18 triệu khách/năm. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, Nhật Bản nổi lên là thị trường đón khách quốc tế có tốc độ tăng trưởng đáng kinh ngạc vì trước đó, Nhật Bản chưa bao giờ được xếp là cường quốc du lịch ở châu Á và thế giới xét ở góc độ đón khách quốc tế.

du-lich-nhat-ban-san-bay-narita-14-12-2016-22222221

Sân bay Narita

du-lich-nhat-ban-chua-co-asakusaKannon-14-12-2016-22222223

Chùa cổ AsakusaKannon

du-lich-nhat-ban-chua-thanh-thuy-14-12-2016-22222224

Chùa Thanh Thủy

du-lich-nhat-ban-cong-vien-hitachi-14-12-2016-22222224

Công viên Hitachi

 

 

du-lich-nhat-ban-lang-oshino-14-12-2016-22222224

Làng Oshino

du-lich-nhat-mua-dieu-nhat-14-12-2016-22222224

Nét duyên dáng trong điệu múa Nhật

du-lich-nhat-ruou-sake-14-12-2016-22222225

Rượu Sake Nhật Bản

Cụ thể, năm 2011, khi thảm họa sóng thần xảy ra, số lượng khách quốc tế tới Nhật Bản chỉ khoảng 6,21 triệu khách; năm 2012 là 8,35 triệu khách; năm 2013 là 10,36 triệu khách và lần đầu tiên số khách quốc tế đến Nhật Bản vượt ngưỡng 10 triệu lượt; năm 2014 là 13,41 triệu khách; năm 2015 là 19,73 triệu khách, và tăng gần bốn lần so với 5,21 triệu khách đã đến thăm Nhật Bản vào năm 2003.

Nếu xét mốc thời gian 5 năm, từ năm 2011 đến năm 2015 thì số khách tới Nhật Bản tăng hơn 300%, một con số thể hiện tốc độ tăng trưởng thần kỳ trong việc đón khách quốc tế đến của ngành du lịch Nhật Bản.

Tháp truyền hình Nhật Bản

Theo Tổng cục du lịch, khi lý giải về nguyên nhân của sự tăng trưởng khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản, các chuyên gia du lịch và kinh tế nhìn chung đều cho rằng, Nhật Bản luôn là một trong những điểm đến lý tưởng về chất lượng sản phẩm và dịch vụ du lịch. Tuy nhiên, trước thảm họa tháng 3/2011, du lịch chưa bao giờ được đánh giá đầy đủ là một ngành kinh tế tiềm năng, có ảnh hưởng lớn tới cán cân thương mại và kinh tế của Nhật Bản.

Cũng theo Tổng cục du lịch, chỉ sau khi thảm họa xảy ra, Nhật Bản muốn xây dựng lại hình ảnh đất nước mình trong mắt bạn bè và du khách quốc tế, khi đó Chính phủ và chính quyền các địa phương (đặc biệt là ở các khu vực bị thảm họa), cũng như các doanh nghiệp du lịch của Nhật Bản mới xúc tiến và đẩy mạnh hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản thông qua các chương trình du lịch trọn gói, giá rẻ nhưng vẫn đảm bảo chất lượng tốt.

du-lich-nhat-ban-yokohama-14-12-2016-33333333

Toàn cảnh Yokohama

Sau thảm họa tháng 3/2011, cả thế giới đã dành cho đất nước và con người Nhật Bản sự quan tâm, cảm thông và ngưỡng mộ vì ý chí và tinh thần vươn lên trong khó khăn. Rất nhiều khách du lịch đến với Nhật Bản để tận mắt được nhìn thấy sự phục hồi của nước Nhật sau thảm họa. Nhân cơ hội này, Nhật Bản đã tích cực thu hút các doanh nghiệp nước ngoài tham gia vào đầu tư, trao đổi sản phẩm du lịch. 

Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Theo Tổng cục du lịch Việt Nam, trên cơ sở phân tích và nhận định về thành quả cũng như nguyên nhân của sự phát triển du lịch Nhật Bản cho thấy, để du lịch phát triển tốt và bền vững, Nhật Bản đã tập trung và hướng vào giải quyết các vấn đề cụ thể sau:

Thứ nhất, Chính phủ của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe trong những năm gần đây đã rất chú trọng đến phát triển du lịch, coi phát triển du lịch là định hướng chiến lược và là quốc sách hàng đầu để chấn hứng nền kinh tế quốc gia (đặc biệt từ sau thảm họa động đất sóng thần tháng 3/2011), nên đã dành sự ưu tiên cho phát triển du lịch cả về cơ chế, chính sách, ngân sách đầu tư phát triển du lịch và sự phát triển cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch.

du-lich-nhat-ban-ho-ashi-14-12-2016-33333331

Du lịch Hồ Ashi

Thứ hai, trên cơ sở coi du lịch là định hướng chiến lược, Chỉnh phủ Nhật Bản đã chỉ đạo các Bộ, ngành hữu quan có sự liên thông và phối hợp chặt chẽ với ngành du lịch để tổ chức và quản lý các hoạt động du lịch; tạo ra những chiến lược và sản phẩm du lịch tốt, có chất lượng cao; khai thác hiệu quả, đồng bộ tài nguyên du lịch, đem lại nguồn thu cho đất nước, tạo một vị thế nhất định với nước ngoài.

du-lich-nhat-ban-chua-co-14-12-2016-33333332

Du lịch Chùa cổ

Thứ ba, Chính phủ Nhật Bản chú trọng việc giảm thiểu các thủ tục hành chính liên quan tới nhập cảnh (giảm thiểu thời gian nhập cảnh, miễn thị thực) cho khách du lịch cũng như hỗ trợ và khai thác tối đa khả năng chi tiêu của du khách (bằng việc xây dựng và mở rộng danh mục hàng hóa miễn thuế, cửa hàng miễn thuế) và tăng cường chất lượng phục vụ du khách tại các sân bay (không chỉ sân bay quốc tế), bến tàu...

du-lich-nhat-ban-tau-dien-14-12-2016-33333334

Tàu điện Nhật Bản

Trên cơ sở các bài học kể trên,Tổng cục du lịch Việt Nam cho rằng, Việt Nam cần tham khảo và học tập du lịch Nhật Bản về các vấn đề chủ yếu sau:

Một là, coi trọng công tác thúc đẩy phát triển du lịch trên cơ sở các chiến lược, kế hoạch phát triển du lịch đã có.

Hai là, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho du khách quốc tế về mặt thủ tục, chất lượng dịch vụ du lịch, hàng rào thuế quan.

Ba là, tạo ra những sản phẩm độc đáo, đa dạng, hấp dẫn, riêng biệt để lôi cuốn sự chú ý của du khách.

Bốn là, tăng cường tuyên truyền, quảng bá về du lịch.

Năm là, chú trọng xây dựng và chấn hưng hình ảnh đất nước thông qua du lịch.

du-lich-nhat-ban-thu-nhat-ban-14-12-2016-33333335

Sáu là, biến những bất lợi thành cơ hội để phát triển du lịch.

2. Phương hướng phát triển loại hình du lịch nông thôn ở Nhật Bản

Du lịch nông thôn đã được quan tâm phát triển ở Nhật Bản vào những năm 80 của thế kỷ trước. Với mục đích là khôi phục lại sự phát triển của các vùng nông thôn,  tăng cường giao lưu giữa cư dân thành thị và các vùng nông thôn, tăng cường sự hiểu biết và nâng cao nhận thức của những người dân thành thị đối với các hoạt động sản xuất cũng như các giá trị văn hoá tại các vùng nông thôn.

du-lich-nhat-ban-lang-oshino-hkkai-14-12-2016-33333337

Làng Oshino Hkkai

Theo quan điểm của Nhật Bản, phát triển du lịch nông thôn là phát triển ở tất cả các vùng nông thôn, miền núi và vùng ven biển gắn với các hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp.

Xây dựng một hình ảnh đẹp đẽ về khu vực nông thôn: phát triển du lịch gắn liền với cải thiện cơ sở vật chất hạ tầng, đưa ra những quy chế, điều lệ liên quan đến bảo tồn cảnh quan thiên nhiên. Đồng thời để tạo ra sức hút đối với khách du lịch, cuộc vận động “mỗi thôn một sản phẩm” tạo ra sự phong phú đa dạng trong các loại hình sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của khách du lịch.

du-lich-nhat-ban-bieu-dien-kimono-show-14-12-2016-33333337

Tiết mục biểu diễn Kimono Show 

Xác lập một thể chế để đáp ứng sự phát triển của du lịch nông thôn: Chuẩn bị cơ sở vật chất và các quy chế hoạt động cho các dịch vụ lưu trú, ăn uống cùng với việc nâng cao chất lượng dịch vụ liên quan, đào tạo và bồi dưỡng những người tham gia vào quá trình cung cấp dịch vụ, những người hướng dẫn hoặc thuyết minh viên tại địa phương.

B – Kinh nghiệm của Hàn Quốc

du-lich-han-quoc-seoul-14-12-2016-33333338

Du lịch Seoul về đêm

Ngành du lịch của Hàn Quốc phát triển rất mạnh, vì sao ? Hàn Quốc là quốc gia đi đầu trong ngành công nghiệp du lịch tại Châu Á nói chung và trên thế giới nói riêng. Hàng năm lượng du khách đến tham quan đất nước này không ngừng tăng lên, mang lại nguồn thu nhập ngoại tệ khổng lồ, phát triển đất nước. Có rất nhiều lí giải cho thành công này, một trong số đó chính là do sự phát triển của nền công nghiệp điện ảnh rầm rộ trên khắp thế giới.

Theo những báo cáo gần đây về số lượng khách du lịch đến Hàn Quốc, hơn một nửa số khách Châu Á đật chân tới quốc gia này bị hấp dẫn bởi những đoạn quảng cáo, phim truyền hình, và đặc biệt là những bài hát của Hàn Quốc.

Theo ước tính, tỉ lệ khách du lịch Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan đến Hàn Quốc tương ứng là 52%, 37%, và 55% sau khi xem qua những đoạn quảng cáo, xem phim truyền hình và nghe nhạc Hàn Quốc. Các nhà chức trách nhìn nhận một sự thật rầng khách đến Hàn Quốc là vì chính hoạt động giải trí của đất nước này, hơn là vì những lí do cá nhân hay chi phí vé máy bay rẻ.

du-lich-han-quoc-nhom-nhac-han-quoc-14-12-2016-33333339

Girl Generation – Một trong những nhóm nhạc làm nên thành công của ngành du lịch Hàn Quốc

Trong những năm gần đây, Hàn Quốc tập trung vào việc sử dụng hình ảnh các nhóm nhạc, ca sĩ, diễn viên nổi tiếng để quảng bá văn hóa, cảnh đẹp, cũng như giới thiệu về con người Hàn Quốc. Chiến lược này đã mang lại những kết quả thật sự ấn tượng, đưa Hàn Quốc đến với nhiều người hơn.

Để có thể mời được những ngôi sao hàng đầu tại châu Á như vậy thì ắt hẳn các nhà đầu tư cũng đã bỏ ra một con số không nhỏ nhưng đó vẫn chưa phải là những cái e ngại đối với họ, bởi mục đích sâu sa hơn nữa đó chính là lợi thế cho nước nhà. Cũng như các nhà quản lí tại Hàn Quốc, các nghệ sĩ có cơ hội được tham gia trong đoạn quảng cáo mang tầm vóc quốc tế như vậy thì cũng không thể từ chối cơ hội đẩy mạnh tên tuổi của mình vang xa hơn nữa. Có thể nói đó là “lợi cả đôi đường”, thêm một câu trả lời nữa vì sao những thước phim để giới thiệu về đất nước Hàn Quốc lại có thể long lanh và thơ mộng đến như thế.

Các nhà sản xuất phim truyền hình Hàn Quốc cũng đã khéo léo đưa vào những bộ phim của mình những địa danh nổi tiếng của Hàn Quốc. Chính thiên nhiên thơ mộng, và nét độc đáo trong văn hóa Hàn Quốc mà các diễn viên thể hiện trong phim đã lôi cuốn khách du lịch đến với quốc gia này. Nhiều trường quay của những bộ phim nổi tiếng như Boys over Flower, Bản Tình ca mùa đông, Full-house, sau khi phim đóng máy, đã trở thành địa điểm du lịch nổi tiếng, thu hút hàng chục nghìn người đến thăm quan. Đây thực sự là một chiến lược vừa phát triển nền công nghiệp điện ảnh, vừa mở rộng thì trường du lịch cho khách tham quan quốc tế một cách hiệu quả của Hàn Quốc, dịch vụ Du lịch Hàn Quốc giá rẻ cũng đang nở rộ.

du-lich-han-quoc-quang-truong-han-quoc-14-12-2016-33333311

Quảng trường Gwanghwamun

du-lich-han-quoc-han-quoc-14-12-2016-33333312

du-lich-han-quoc-thu-han-quoc-14-12-2016-33333313

du-lich-han-quoc-cong-vien-everland-14-12-2016-33333314

du-lich-han-quoc-suoi-14-12-2016-33333315

C – Kinh nghiệm của Thái Lan

Thái Lan là quốc gia ở Đông Nam Á, có ngành du lịch phát triển khá nhanh đặc biệt từ sau những năm 80 của thế kỷ trước. Hiện nay, hàng năm Thái Lan đón được hơn 15 triệu khách du lịch quốc tế. Tương đồng với các nước Châu Á khác, Thái Lan cũng là một quốc gia có nền nông nghiệp phát triển mạnh, với nhiều tiềm năng tài nguyên gắn với sản xuất nông nghiệp có thể phát triển loại hình du lịch nông thôn. Quan niệm của Thái Lan về du lịch nông thôn gần giống như quan điểm của Ý, đó là hoạt động gắn liền với hoạt động sản xuất nông nghiệp, với tên gọi tiếng Anh là Agrotourism.

du-lich-thai-lan-trung-tam-mua-sam-14-12-2016-33333316

Chủ thể tham gia hoạt động du lịch nông thôn:

  • Theo Nichakan và Yamada (2003), ở Thái Lan hiện có 3 chủ thể tham gia vào quá trình phát triển du lịch nông thôn, bao gồm: Cơ sở trang trại của hộ kinh doanh nông nghiệp, các nông trang cá nhân khác; Khu vực nông nghiệp có phạm vi rộng lớn; các cơ sở nông nghiệp của nhà nước. Giống như Nhật Bản, Thái Lan cũng có cuộc vận động mỗi làng một sản phẩm với mục đích làm đa dạng và phong phú cho các sản phẩm du lịch nông thôn, tạo ra sức hút đối với khách du lịch.

  • Chủ thể cung cấp các dịch vụ cho hoạt động du lịch nông thôn là chủ các nông trại, các hội người làm vườn, hội những phụ nữ làm công tác chế biến và thu hoạch nông sản. Tuy nhiên, vấn đề cung cấp dịch vụ ăn uống, lưu trú cho khách du lịch ở Thái Lan chưa phát triển chỉ giới hạn trong phạm vi tổ chức và tạo không gian cho khách du lịch vãn cảnh, tổ chức sản xuất sản phẩm và tạo không gian tham quan và thưởng thức các sản phẩm là nông sản tại các địa phương.

Khách du lịch nông thôn:

  • Khách du lịch nông thôn ở Thái Lan chủ yếu là khách du lịch nội địa, thời gian gần đây khách du lịch quốc tế đến từ các quốc gia như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc…. Khách du lịch tham gia hoạt động du lịch này với các hoạt động chủ yếu như tham quan các cơ sở, nông trang sản xuất nông nghiệp, tham quan cảnh quan môi trường thiên nhiên, tham gia trải nghiệm các hoạt động canh tác, thu hái các sản phẩm nông nghiệp.

  • Khách du lịch tham gia các hoạt động du lịch nông thôn thông thường được hình thành theo nhóm nhỏ như gia đình, nhóm bạn bè hoặc các đoàn khách lớn. Khách chủ yếu đi theo các chương trình du lịch được xây dựng và bán bởi các doanh nghiệp du lịch hoặc khách tự tổ chức trên cơ sở đã được tham quan một lần sau đó dẫn bạn bè và gia đình đi tham quan tại các vùng nông thôn.

Phong trào bào vệ môi trường trong hoạt động du lịch nông thôn:

  • Để đảm bảo cho hoạt động du lịch nông thôn được thực hiện có hiệu quả trên cơ sở đem lại nguồn thu thứ hai cho các hộ nông dân, đồng thời với việc giữ gìn và bảo vệ môi trường tại các khu vực nông thôn bằng những hoạt động và phong trào không vứt rác bảo vệ môi trường xanh sạch để phát triển du lịch. Những phong trào này được phổ biến rộng rãi trong công chúng, khách du lịch và các trường đại học.

 

 

Xưởng chế đá quý

 

IV. So sánh du lịch Việt Nam và thế giới

V. Tổng quan về ngành du lịch Việt Nam

Du lịch là một ngành quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu. Theo tổ chức Du lịch Liên hiệp quốc (UNWTO), ngành du lịch hiện nay chiếm gần 10% GDP toàn cầu, gần 10% công việc trên toàn thế giới.

Việt Nam là một đất nước có tiềm năng du lịch phong phú với hơn 3,000 km bờ biển, trải dài nhìn ra biển Đông. Con đường du lịch  quốc tế rất thuận lợi. VN đứng thứ 27 trong số 156 quốc gia giáp biển có bãi tắm đẹp và hơn 40.000 di tích, thắng cảnh.

Trong những năm qua, số khách du lịch liên tục tăng lên:

Năm

Lượt khách Nội địa

Lượt khách Quốc tế

2012

32,5 triệu

6,8 triệu

2013

35 triệu

7,57 triệu

2014

35 triệu

8 triệu

Tuy nhiên, du lịch Việt Nam vẫn tồn tại nhiều mặt hạn chế và chưa phát triển đúng với tiềm năng của nó. Nguyên nhân của tình trạng ấy là do đầu tư chưa đúng mức, cơ sở hạ tầng yếu kém, chất lượng dịch vụ chưa cao. Ngoài ra có thể kể đến việc quản lý du lịch chưa chặt chẽ, hợp lý, khiến cho các điểm đến du lịch có nhiều nguy cơ và làm phiền hà khách du lịch…

Mặt khác cũng cần phải nhìn nhận nguyên nhân từ hướng khác, đó là quan niệm đơn giản, dễ dãi và cách làm du lịch có phần cũ kỹ, đơn điệu và lạc hậu của ngành du lịch nước ta.

VI. Tổng quan về du lịch Cần Thơ

Thành phố Cần Thơ là đô thị lớn của vùng đồng bằng sông Cửu Long, là đầu mối giao thương nối liền các tỉnh trong vùng đến thành phố Hồ Chí Minh và sang Campuchia. Về phát triển du lịch, thành phố Cần Thơ có nhiều tiềm năng với các điểm đến như: Tượng đài Bác Hồ, nhà Bảo tàng thành phố, nhà Bảo tàng Quân khu 9, đình Bình Thủy, chùa Khánh Quang, chùa Ông, chùa Nam Nhã Đường, Hội Linh Cổ Tự, chùa Munir Ansây, Long Quang Cổ Tự, mộ thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa, mộ nhà thơ Phan Văn Trị, Trường Đại học Cần Thơ, Viện nghiên cứu lúa ĐBSCL, nông trường Sông Hậu… với nhiều tiềm năng về phát triển du lịch văn hóa.

Hệ thống sông rạch chằng chịt và một số làng nghề truyền thống; các tiềm năng cảnh quan sinh thái như cồn Cái Khế, Cồn Khương, Cồn Ấu, cù lao Tân Lộc, làng hoa Thới Nhật, nhà lồng chợ cổ Cần Thơ, phố đi bộ dọc bến Ninh Kiều, chợ nổi Cái Răng, chợ nổi Phong Điền, du thuyền trên sông..., được kết nối với trung tâm thành phố bằng hệ thống giao thông đường bộ lẫn đường thủy rất thuận tiện, có khả năng phát triển du lịch sinh thái; tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư đã được phê duyệt, đáng chú ý là dự án Trung tâm văn hóa Tây Đô, Trung tâm văn hóa Khmer Nam bộ, dự án khôi phục lộ Vòng Cung - làng cổ Bình Thủy…

Doanh thu năm 2015 của Tp Cần Thơ là 1.747 tỷ đồng, đạt 140% kế hoạch, tăng 49% so với cùng kỳ năm 2014 (Nguồn: Báo cáo tổng kết của UBND Tp Cần Thơ)

Doanh thu 06 tháng đầu năm 2016 ước tính đạt 940,4 tỷ đồng, tăng 24% so với cùng kỳ năm 2015, đạt 67% kế hoạch năm (Nguồn: Báo cáo tổng kết của UBND Tp Cần Thơ)

VII. Đánh giá thực trạng của du lịch Cần Thơ

1. Thành tựu

Ngành du lịch Tp Cần Thơ đã có những bước phát triển đáng kể với những thành tựu về công tác quảng bá, xúc tiến du lịch được chú trọng; sự thu hút nhiều thành phần kinh tế đầu tư vào dịch vụ du lịch; sản phẩm du lịch ngày càng đa dạng và chất lượng được nâng lên. Hoạt động du lịch gắn với các sự kiện, văn hóa lễ hội – thể thao cấp vùng, quốc gia và quốc tế được tổ chức ngày càng chuyên nghiệp, tạo ấn tượng tốt đẹp với du khách trong và ngoài nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của toàn thành phố (Nguồn: Nghị quyết về đẩy mạnh phát triển du lịch của Thành ủy Cần Thơ)

2. Hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, du lịch thành phố Cần Thơ vẫn còn tồn tại những hạn chế như: chưa phát huy, khai thác hết lợi thế, tiềm năng du lịch của thành phố, các loại hình vui chơi giải trí và sản phẩm du lịch đặc trưng của địa phương còn ít… chưa đủ sức hấp dẫn và giữ chân du khách, việc tổ chức hoạt động du lịch còn nhỏ lẻ, thiếu liên kết, thiếu tính chuyên nghiệp; sức cạnh tranh của doanh nghiệp du lịch còn yếu. Việc đầu tư phát triển du lịch chưa đồng bộ, còn mang tính tự phát, trùng lắp, huy động xã hội hóa hoạt động du lịch còn nhiều khó khăn (Nguồn: Nghị quyết về đẩy mạnh phát triển du lịch của Thành ủy Cần Thơ)

3. Phân tích nguyên nhân hạn chế của du lịch Cần Thơ

Những hạn chế của ngành du lịch Tp Cần Thơ có nhiều nguyên nhân, song chủ yếu là do nhận thức về phát triển du lịch của các cấp, các ngành chưa thật sự toàn điện, nhiều địa phương chưa có định hướng phát triển, thiếu cơ chế và giải pháp đột phá để khuyến khích đầu tư phát triển du lịch; chưa phát huy tốt các thành phần kinh tế, việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ cho phát triển du lịch chưa được quan tâm đúng mức, nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch chưa đáp ứng yêu cầu, công tác tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch còn yếu, thiếu tính chuyên nghiệp.

VIII. Đề xuất cơ chế chính sách đầu tư để phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn

Năm 2015 là một năm với nhiều văn bản quan trọng về phát triển du lịch được ban hành, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động du lịch phát triển. Quán triệt tinh thần của Nghị quyết 92/NQ-CP, ngày 08/12/2014, về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch trong thời kì mới; Thành ủy, UBND Tp Cần Thơ  đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo nhằm nhằm thực hiện các điều chỉnh, tăng cường sự quản lý nhà nước, tạo hành lang thông thoáng về pháp lý cho hoạt động du lịch phát triển.

QĐ số 2227/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 cũng đã xác định quan điểm Tp Cần Thơ là địa điểm quan trọng trong Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đồng bằng sông Cửu Long cụ thể là phát triển không gian du lịch phía Tây với định hướng khai thác sản phẩm du lịch đặc trưng gồm: tham quan đất Mũi, Tây Đô, nghỉ dưỡng biển đảo sinh thái, trải nghiệm đời sống sông nước, chợ nổi; nghiên cứu tìm hiểu văn hóa, di tích lịch sử, lễ hội….

QĐ số 2227/QĐ-TTg của Thủ tưởng Chính phủ về việc Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 cũng đã xác định rõ các nguồn vốn đầu tư cho phát triển du lịch Vùng bao gồm: vốn đầu tư từ ngân sách (kể cả vốn ODA) vốn FDI, vốn huy động từ đóng góp của các tổ chức, doanh nghiệp, các thành phần kinh tế trong nước và các nguồn vốn huy động hợp pháp khác. Trong đó vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước được bố trí căn cứ vào khả năng cân đối ngân sách hàng năm và theo tiến độ từng giai đoạn để đầu tư hạ tầng khung trong các khu du lịch, đầu tư phát triển nguồn nhân lực, xúc tiến quảng bá và xây dựng thương hiệu du lịch Vùng, đầu tư bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch và ứng phó với biến đổi khí hậu.

 

1. Giải pháp về cơ chế chính sách thúc đẩy, phát triển du lịch

Nghiên cứu, hoàn thiện và đẩy mạnh áp dụng hệ thống các cơ chế chính sách đặc thù trong các lĩnh vực: đầu tư phát triển du lịch, phát triển nguồn nhân lực du lịch, nhất là nhân lực du lịch chất lượng cao, phát triển thị trường – sản phẩm du lịch, xã hội hóa trong du lịch; cơ chế liên kết và hợp tác trong phát triển du lịch.

Vận dụng linh hoạt các quy định của Nhà nước để xây dựng các chính sách, cơ chế phù hợp, tạo môi trường thông thoáng để thu hút đầu tư  phát triển hạ tầng, dịch vụ du lịch. Tăng cường chức năng tư vấn đầu tư du lịch để hỗ trợ các doanh nghiệp, nhà đầu tư thực hiện quy trình, thủ tục (cải cách thủ tục hành chính, đất đai, chính sách về thuế, vốn vay ưu đãi…) tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư trong lĩnh vực du lịch.

2. Giải pháp quy hoạch và quản lý quy hoạch

Tập trung hoàn thiện công tác quy hoạch, bao gồm: rà soát, điều chỉnh và lập mới quy hoạch du lịch các địa phương và các khu du lịch quốc gia phù hợp với quy hoạch tổng thế phát triển du lịch toàn Vùng.

Tăng cường hiệu lực công tác quản lý theo quy hoạch, phát huy vai trò chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, kiện toàn bộ máy quản lý phát triển du lịch tại các địa phương và thực hiện phân cấp quản lý triệt để, thống nhất.

3. Giải pháp đầu tư và huy động nguồn vốn phát triển du lịch

Tăng cường đầu tư và nâng cao hiệu quả đầu tư từ ngân sách nhà nước cho phát triển du lịch, theo hướng: ưu tiên tập trung vốn để phát triển cơ sở hạ tầng đối với các khu du lịch quốc gia, điểm du lịch quốc gia của Vùng theo hướng lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia gắn với phát triển du lịch; đẩy mạnh nguồn vốn ODA thông qua vay ưu đãi nước ngoài hoặc phát hành trái phiếu Chính phủ cho các công trình đầu tư lớn như: đường cao tốc, càng tàu du lịch, cảng hàng không quốc tế, tranh thủ sự hỗ trợ của quốc tế để thu hút tài trợ cho các chương trình phát triển dài hạn.

Cải thiện môi trường đầu tư, tạo lợi thế trong việc thu hút các nguồn vốn của khu vực doanh nghiệp , nguồn lực tài chính trong nhân dân và của cộng động người Việt Nam ở nước ngoài, tiềm lực tài chính của các tổ chức trong và ngoài nước (bao gồm cả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài)… để đảm bảo nguồn vốn khác cho đầu tư phát triển du lịch.

Tăng cường công tác xúc tiến, thu hút đầu tư nước ngoài đối với từng địa phương trong Vùng, chú trọng liên kết xúc tiến đầu tư.

4. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực

Xây dựng và triển khai thực hiện Chương trình phát triển nguồn nhân lực cho địa phương phù hợp với định hướng phát triển du lịch nhằm mục tiêu phát triển đội ngũ nhân lực du lịch đủ về số lượng, cận đối về cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo, bảo đảm về chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển của Vùng.

Tập trung xây dựng đội ngũ giảng viên, giáo viên, thẩm định viên nghề du lịch; chú trọng đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo; tăng cường công tác đào tạo tại chỗ,đào tạo ngắn hạn đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực du lịch trước mắt cũng như lâu dài của từng địa phương và phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế.

Lập kế hoạch và tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về du lịch, tham gia vào các hoạt động du lịch và ý thức bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch.

Cụ thể hóa về chương trình phát triển nguồn nhân lực như: Lập cơ sở đào tạo nguồn nhân lực du lịch với An Tín Group là đầu mối giữ vai trò phối hợp với các cơ sở đào tạo có uy tín, chất lượng cao trong và ngoài nước, đưa ra các chương trình đào tạo chuyên sâu về ngành du lịch từ Nhà Điều hành – Thiết kế sản phẩm – Hướng dẫn viên – Dịch vụ lưu trú….

Xây dựng các chương trình đào tạo liên kết với UBND hoặc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tp Cần Thơ; đề xuất đầu tư phối hợp thành lập Trường Cao đẳng thực hành tại Tp. Cần Thơ (An Tín Cần Thơ/Academy Tourist…)

5. Giải pháp hợp tác, liên kết phát triển du lịch

Nghiên cứu, hình thành mô hình tổ chức thích hợp thực hiện vai trò điều phối du lịch vùng Đồng bằng sông Cửu Long phù hợp với điều phối vùng kinh tế trọng điểm.

Tham mưu UBND thành phố xây dựng kế hoạch hợp tác trên lĩnh vực du lịch đối với các địa phương: TP. Sán Đầu – Trung Quốc, tỉnh Pilsen – Cộng hòa Séc, tỉnh Chachoengsao – Thái Lan, Philipines, Pháp, New Zealand, Úc…

Thực hiện liên kết hợp tác giữa các địa phương trong cùng không gian hoặc các chương trình hợp tác song phương phù hợp với từng mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể trong các lĩnh vực: phát triển sản phẩm du lịch; quảng bá xúc tiến, kêu gọi đầu tư; du lịch cộng đồng; phát triển nguồn nhân lực du lịch; bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Tổ chức đoàn khảo sát giới thiệu, quảng bá du lịch Cần Thơ tại tỉnh Khánh Hòa, Lâm Đồng; Đoàn khảo sát và học tập kinh nghiệm phát triển điểm vườn du lịch tại tỉnh Vĩnh Long và Bến Tre.

Tổ chức Farmtrip kết nối Cần Thơ – Các tỉnh Bắc Trung Bộ nhằm tăng cường liên kết, hợp tác phát triển trong lĩnh vực du lịch với các tỉnh khu vực Bắc Trung Bộ và tạo điều kiện để các doanh nghiệp kinh doanh du lịch giao lưu, hợp tác kết nối tour tuyến, sản phẩm du lịch.

Tổ chức Farmtrip kết nối Cần Thơ – Các tỉnh, thành phía Bắc nhằm tăng cường liên kết, hợp tác phát triển trong lĩnh vực du lịch với các tỉnh, thành phía Bắc đặc biệt là Tp. Hà Nội và tạo điều kiện để các doanh nghiệp kinh doanh du lịch giao lưu, hợp tác kết nối tour tuyến, sản phẩm du lịch.

Tiếp tục tăng cường hợp tác phát triển du lịch với các tỉnh, thành phố Cụm phía Tây và cụm phía Đông.

Phát động tổ chức cuộc thi bầu chọn 100 tour du lịch độc đáo trên khắp các vùng Bắc – Trung – Nam và tổ chức chương trình Chung kết tại Cần Thơ. Trên cơ sở đó làm tiền đề giới thiệu các tour độc lạ miền sông nước, nhấn mạnh Cần Thơ là điểm đến du lịch hấp dẫn.

Xây dựng và tổ chức chương trình theo hình thức “Chợ phiên du lịch” với các khuyến mãi hấp dẫn về giá tour khi tham gia đặt tour trong chương trình.

Khai thác kênh quảng bá du lịch Việt Nam nói chung và Cần Thơ nói riêng qua các chương trình hành động của Đại sứ du lịch hoặc Tham tán Văn hóa, các hoạt động này sẽ góp phần làm cầu nối giữa các điểm đến tại Cần Thơ và đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút đối tượng khách Inbound.

6. Giải pháp xúc tiến, quảng bá du lịch:

Tăng cường nguồn lực, đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động xúc tiến quảng bá, xây dựng hình ảnh và thương hiệu du lịch vùng.

Nâng cao tính chuyên nghiệp trong hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch: Tập trung quảng bá, xúc tiến du lịch theo chiến dịch trọng điểm, bằng nhiều hình thức, đa dạng cả trong và ngoài nước; sử dụng hiệu quả các phương tiện truyền thông hiện đại, huy động sự hợp tác của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài tham gia xúc tiến, quảng bá du lịch.

Định kỳ hàng năm tổ chức đánh giá tiềm năng, thực trạng phát triển du lịch để cập nhật đầy đủ, chính xác các thông tin phục vụ công tác quảng bá, xúc tiến du lịch.

Nghiên cứu xây dựng mô hình Trung tâm thông tin và hỗ trợ khách du lịch.

7. Giải pháp về hạ tầng du lịch

Tham mưu UBND thành phố mời gọi đầu tư xây dựng các công trình dự án du lịch với quy mô lớn, nhằm đáp ứng nhu cầu phục vụ khách du lịch, đặc biệt là mời gọi nhà đầu tư sớm thực hiện các dự án khu du lịch tại các cồn dọc sông Hậu.

Đẩy mạnh tiến độ thực hiện quy hoạch dự án đầu tư phát triển du lịch: khu du lịch Cồn Sơn, khu du lịch cồn Tân Lộc, Vườn cò Bằng Lăng và khu du lịch sinh thái huyện Phong Điền. Phối hợp các quận, huyện có kế hoạch đầu tư nâng cấp, sửa chữa, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa đang xuống cấp.

Bạn có thích bài viết này ?

Liên Hệ An Tín Travel

Để được tư vấn, đặt dịch vụ hoặc ý kiến đóng góp, xin vui lòng gửi về địa chỉ email:

Trụ sở An Tín Travel:
info@antintravel.com

Chi nhánh Hà Nội:
hanoi@antintravel.com

Chi nhánh Đà Nẵng:
danang@antintravel.com

Chi nhánh Bình Định:
binhdinh@antintravel.com

Chi nhánh Bình Thuận:
binhthuan@antintravel.com

Chi nhánh Cần Thơ:
cantho@antintravel.com

Chi nhánh Long Xuyên:
longxuyen@antintravel.com

Chi nhánh Hoa Kỳ:
usa@antintravel.com

Chi nhánh Campuchia:
camphuchia@antintravel.com

Đường Dây Nóng

Để được tư vấn, đặt dịch vụ hoặc ý kiến đóng góp, xin vui lòng gửi gọi các số sau:

Hotline tư vấn, đặt dịch vụ
028.38 266 766 - 1900 636 121

Trụ sở An Tín Travel:
028. 38 266766

Chi nhánh Bình Định:
(056) 3791365

Chi nhánh Bình Thuận:
(062) 6277377 - 6286288

Chi nhánh Cần Thơ:
(0710) 3.868.869

Chi nhánh Long Xuyên:
091 91 26 597 - 016 38 477 111